6.17.2008

Giải thưởng Công nghệ thiên niên kỷ 2008:


Robert Langer được bà Tổng thống Phần Lan Tarja Halonen chúc mừng tại Helsinki - Ảnh: AP
Tuoi tre oline Thứ Ba, 17/06/2008, 06:20 (GMT+7)

TT - Các viên thuốc thông minh hay các liều thuốc tiêm không cần kim, tự tiết ra đúng lượng dược phẩm khi cơ thể cần. Chuyện giả tưởng? Hoàn toàn không.

Có nhà khoa học đã chế tạo được vi mạch và các chất polymer để giải phóng chính xác lượng thuốc vào cơ thể bệnh nhân, nhắm đúng những tác nhân gây bệnh. Đó là cách giải thích nôm na công trình đoạt giải thưởng "Công nghệ thiên niên kỷ 2008" (MTP 2008) vừa được công bố tại Helsinki (Phần Lan).

Người thắng giải là giáo sư hóa học Mỹ Robert Langer, 59 tuổi, thuộc Viện Công nghệ Massachusetts (MIT - Mỹ) với công trình "Nghiên cứu vật liệu sinh học thế hệ mới dùng để phân phối thuốc có kiểm soát". Ông đã tìm ra các chất liệu dùng để sản xuất những bộ phận gắn vào cơ thể bệnh nhân, cho phép sử dụng chính xác liều lượng và kiểm soát được sự giải phóng dược phẩm vào cơ thể.

Giáo sư Robert Langer bắt đầu công trình nghiên cứu năm 1974. Ông kể trên The Tech Online (của Viện MIT): "Năm đó, tôi và chuyên gia ung thư Judah Folkman đang tìm cách ngăn không cho các mạch máu phát triển (để chữa trị các khối u ung thư cũng như các dạng bệnh khác làm mù mắt) thì tôi nghĩ ra các vật liệu này". Đầu những năm 1990, các dạng polymer do ông chế tạo bắt đầu được sử dụng để bọc các loại dược phẩm đưa thuốc trực tiếp vào não của bệnh nhân ung thư. Màng xốp này có kích thước như một đồng xu, có thể phân phối dần thuốc chống ung thư trong vùng khối u đã được cắt bỏ và giết chết các tế bào ung thư còn lại. Nó còn được sử dụng để chữa các bệnh về tim mạch và những bệnh khác (tâm thần phân liệt, ung thư tuyến tiền liệt...).

Phương pháp này ít gây tác dụng phụ lên các bộ phận khác so với cách chữa trị truyền thống, do đó có thể gọi đây là một loại thuốc thông minh. Hơn thế nữa, giáo sư Langer cho biết thuốc còn được phân phối ngay tại chỗ khối u hay những tế bào cần nhắm tới nên hiệu quả càng tăng. Chất thuốc này đã làm thay đổi nhiều nhất cách chữa trị cho bệnh nhân ung thư não trong 25 năm qua. Hiện nay trên toàn thế giới có hơn 100 triệu người sử dụng phương pháp truyền thuốc vào cơ thể do ông sáng chế. Chủ tịch hội đồng bình chọn giải thưởng đánh giá: "Những công nghệ mới của giáo sư Langer đã cứu sống và cải thiện cuộc sống hàng triệu bệnh nhân".

Giải thưởng Công nghệ thiên niên kỷ thành lập năm 2002, được xem như một giải Nobel không chính thức trong lĩnh vực công nghệ. Cứ hai năm một lần, giải được trao cho các thành tựu công nghệ cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống con người, cả trong hiện tại và tương lai.

Giải thưởng do Viện Công nghệ Phần Lan, một tổ chức độc lập của ngành công nghiệp Phần Lan, sáng lập với sự hợp tác của chính phủ nước này. Tổng cộng năm nay có 99 cá nhân ở 27 quốc gia được đề cử giải MTP. Giải thưởng đầu tiên (năm 2004) được trao cho Tim Berners-Lee, nhà khoa học của Viện MIT, "cha đẻ” của mạng Internet toàn cầu "World Wide Web". Giải thưởng năm 2006 được trao cho Shuji Nakamura (Nhật Bản) với phát minh công nghệ LED và laser xanh.

Ngoài giải nhất trị giá 800.000 euro, ba công trình vào chung kết cũng được nhận mỗi công trình 115.000 euro, đó là:

* "Công nghệ dấu vân tay" của nhà di truyền học Alec Jeffreys ở Đại học Leicester (Anh). Công nghệ này không chỉ cách mạng hóa ngành khoa học pháp y, mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc xác định quan hệ huyết thống và nhiều lĩnh vực khác trong cuộc sống.

* "Thuật toán Viterbi" của giáo sư Andrew Viterbi người Ý gốc Mỹ. Thuật toán của ông giúp tránh các lỗi trong hệ thống truyền thông không dây cũng như trong các thiết bị như điện thoại di động.

* "Bộ khuếch đại EDFA" của ba nhà khoa học gồm: giáo sư David Payne, Đại học Southampton, Anh; tiến sĩ Emmanuel Desurvire, Công ty nghiên cứu & công nghệ Thales, Pháp và tiến sĩ Randy Giles, phòng thí nghiệm Bell, Alcatel-Lucent, New Jersey, Mỹ đã làm thay đổi bộ mặt của ngành viễn thông toàn cầu, đặc biệt là lĩnh vực truyền thông đường dài và tốc độ cao. Giáo sư Bill Wakeham, hiệu phó Đại học Southampton, đánh giá công trình EFFA của bộ ba giáo sư, tiến sĩ trên là một "phát minh quan trọng giúp siêu xa lộ thông tin toàn cầu và hệ thống truyền thông tốc độ cao thành hiện thực, vô cùng có ý nghĩa cho nhân loại thế kỷ 21".

TRẦN ĐỨC THÀNH
(Theo AP, Boston Globe, TTXVN)

6.05.2008

Quỷ Satan mang tên Bill Gates


Đang là thần tượng của không ít người nhưng Bill Gates cũng là kẻ thù không đội trời chung của một số khác. Nhiều người xem ông là anh hùng mã thượng, nhưng cũng có ý kiến xem Gates “chỉ là một kẻ gian hùng, khôn lanh và quỷ quyệt”.

Thậm chí họ còn gọi ông là Quỷ Santan Bill Gates.

Để tránh cái biệt danh “Kẻ làm việc thiện bủn xỉn”, Gates tuyên bố ông cùng vợ thành lập Hiệp hội thư viện Gates trị giá khoảng 200 triệu USD. Tuy nhiên, đó lại là một ví dụ nữa cho thấy ranh giới mập mờ giữa làm từ thiện và chiến lược công ty.

Stewart Alsop, chủ của Agenda, viết trên tờ Fortune hồi tháng 9/1996 rằng ông đã tiên liệu trước cái chết của Netscape. Hệ trình duyệt Internet Explorer của Microsoft mới chỉ lác đác xuất hiện trên thị trường một năm trở lại, thị phần cũng chỉ khoảng 10%. Tuy nhiên, với Alsop, điều đó có nghĩa dự đoán của ông chỉ một hoặc hai năm nữa sẽ thành hiện thực. “Chủ tịch Bill Gates đã biến con vật kếch sù phần mềm (Netscape) trở thành của chẳng đáng một xu” - tuần báo Newsweek viết như vậy trong số cuối năm.

“Chẳng đáng một xu” - đó là lối sáo ngữ trong nội bộ công nghiệp phần mềm. Và nếu đó không phải không đáng một xu như Gates đã phù phép thì ông cũng đã làm đảo lộn cả một lĩnh vực giống như sao đổi ngôi hoặc thay đổi hướng di chuyển giữa chừng, như động tác của Micheal Jordan trên sân bóng rổ. “Gates làm được cái mà chỉ có một vài giám đốc điều hành dám làm” - Jeffrey Katzenberg nhận xét, trong cuộc trả lời phỏng vấn của tờ Newsweek. Katzenberg chính là đồng sáng lập của DreamWorks và đồng thời là đối tác của Gates. “Ông ấy đã kiếm được 8 tỉ USD, một công ty với 20.000 nhân công và làm một cú quay ngoắt đầy bất ngờ''.

Thực sự, Gates phải mất 18 tháng để làm cú đảo ngược tình thế. Và ông không làm điều đó nhiều, vào ngày 7/12, thời điểm tăng tốc nỗ lực trong Microsoft. Đầu năm 1997, Microsoft chỉ là một công ty hầu như kiếm tiền chủ yếu từ hệ điều hành và phần mềm ứng dụng Office, cái mà chính Microsoft thành thật nhìn nhận là “Những ứng dụng năng suất”. Tuy nhiên, báo chí lại viết với một sự kinh ngạc về khả năng của ông như thể ông đã lấy một cỗ xe độc mã rệu rã – một nhà máy sản xuất – rồi tân trang lại để tận dụng lợi thế của thị trường ghế xe hơi bọc da trong tương lai. Ông có thể biến rơm thành vàng. Ông có thể biến nước thành dầu. Ông là nhà phù thủy tài ba. George Gilder chẳng ngại ngần tuyên bố Gates là CEO số một của nước Mỹ.
Tỷ phú Bill Gates. Ảnh: celebrity.

Ở mỗi thời đều có một biểu tượng xứng đáng. Miền tây hoang dã hồi thế kỷ 19 đã cho chúng ta những nhà tư bản cao su. Vào thời tiêu dùng tăng vọt của thập niên 1980, chúng ta được thấy Micheal Milken và Ivan Boesky đã tham lam như thế nào. Rồi cơn bão kiếm tiền của thập niên 1990 đã cho ra đời những kẻ tham công tiếc việc, ngoan cố để kiếm được hàng đống tiền, có khi lên đến hàng chục tỉ đô la. Chúng ta có thể bị chế ngự bởi sự thừa mứa tồi tệ nhất của thập niên 1980, song miễn là các công ty không đổ dầu ra cảng và chúng thực sự làm được điều gì đó thì ở đây vẫn còn cái để yêu. Microsoft là một công ty đáng để chúng ta trân trọng, một công ty không thuốc lá, thân thiện với môi trường, một công ty tạo thế cạnh tranh tuyệt hảo cho nước Mỹ.

Điều gì xảy ra nếu Gates là Thành Cát Tư Hãn của chủ nghĩa tư bản, nếu thỉnh thoảng điểm vào cách ứng xử hung bạo, tàn ác hoặc ít nhất cũng thô lỗ quê kệch của Steve Ballmer. Tiền bạc là câu chuyện của những năm 1990 và những người thực hành có khả năng nhất chính là ông bầu của chúng ta. Vào thời điểm này hoặc thời điểm khác, liệu có ai từng nghĩ cuộc sống sau này của mình sẽ dễ dàng thế nào nếu chỉ, 10 năm trước đó, đã từng mua một chút “tầm nhìn” của người đàn ông này?

Năm 1997, Microsoft đã ra thông cáo báo chí, tuyên bố là công ty Mỹ “hào phóng nhất” đối với các chương trình làm từ thiện. Ngay sau đó, công ty tuyên bố đã tài trợ cả tiền mặt và phần mềm với tổng trị giá lên tới 73,2 triệu USD, và cái tin này đã chiếm cả một trang trên tờ The Wall Street Journal. Có điều, 15% tổng trị giá đó là phần mềm tài trợ cho một tổ chức nhân đạo. Mặt khác, Microsoft đã định giá phần mềm bằng giá bán lẻ, do đó một bản Microsoft Office chỉ tốn từ 1 hoặc 2 USD để đóng gói và dán tem đều được tính giá 599 USD.

Nếu tính theo cách đó, IBM thực sự đã viện trợ nhân đạo hơn Microsoft khoảng 20 triệu USD, trừ một điều, IBM không định tổng giá trị viện trợ theo giá bán lẻ. Có người cho rằng, việc Microsoft tài trợ phần mềm cho trường học hoặc thư viện khó có thể liệt vào hành động viện trợ nhân đạo. “Cho phần mềm là một chiến lược tiếp thị hợp lý” - Tom McNichol bình luận như vậy trên tờ Salon, một trong những tạp chí có uy tín nhất nước Mỹ. “Tuy nhiên, đó không phải là hành động từ thiện, có cái gì còn hơn thế khi Ford Foundation bỏ ra hàng triệu đô la cung cấp bộ phận truyền lực miễn phí mà chỉ thích hợp với các loại xe của hãng Ford”.

Năm 1997, cá nhân Gates tài trợ 20 triệu USD cho Đại học Cambridge để xây dựng tòa nhà mang tên ông. Một năm trước, Gates cũng bỏ ra 15 triệu USD viện trợ cho Đại học Harvard (cũng cùng một mục đích) và 12 triệu USD cho Đại học Washington. Và giới hoạt động nhân đạo coi Gates chẳng hơn gì chính công ty của ông. Quy luật không chính thức là viện trợ chỉ 1% trong tổng thu nhập một năm. Trong một thập niên tính đến năm 1997, Gates đã tài trợ tổng cộng khoảng 70 triệu USD, hoặc 1/3 trong 1% tổng thu nhập của ông vào thời điểm đó.

Trong khi đó, ông ta lại bỏ ra gần một nửa để mua đồ trang sức cho riêng mình, một trong số các bản thảo của danh họa Leonardo da Vinci. Gates giàu đến nỗi có thể qua mặt được cả Chính phủ Italia để mua bản thảo đó với giá 31 triệu USD để khóa vào tủ kính trong nhà riêng của mình. “Không quan trọng là anh có bao nhiêu, vấn đề là anh muốn hơn thế” – Ted Turner trả lời phỏng vấn Larry King sau khi Turner hứa tài trợ 1 tỷ USD cho Liên Hiệp Quốc. “Trong 9 tháng trước, lợi nhuận thực của Turner nhảy từ 2,2 tỷ USD lên tới 3,2 tỷ USD. Và khoản 1 tỷ viện trợ cho Liên Hiệp Quốc, theo ông này, chẳng là cái gì đó to tát. Ngược lại, lợi nhuận thực của Bill Gates tăng thêm 20 tỷ USD trong cùng thời gian.”

Để tránh cái biệt danh “Kẻ làm việc thiện bủn xỉn”, Gates tuyên bố ông cùng vợ thành lập Hiệp hội thư viện Gates trị giá khoảng 200 triệu USD. Tuy nhiên, đó lại là một ví dụ nữa cho thấy ranh giới mập mờ giữa làm từ thiện và chiến lược công ty. Microsoft có thể tài trợ 200 triệu USD bằng phần mềm, song hiệp hội phải dùng hầu hết số tiền để đào tạo nhân sự về việc sử dụng máy vi tính dùng hệ điều hành Windows và trình duyệt Internet Explorer. Đó chính là một món quà nữa không phải ngẫu nhiên đã làm lợi cho Microsoft. Đó đồng thời cũng là khoản thù lao của người đàn ông có tới 40 tỉ USD. Tính đến đầu năm 1998, Gates đã tài trợ tổng số 270 triệu USD, chưa đến 1% tổng thu nhập thực của ông. Một năm sau, Gates và vợ tuyên bố viện trợ thêm 100 triệu USD cho các chương trình tiêm phòng trẻ em ở thế giới thứ ba, chưa tới một nửa trong 1% tổng thu nhập trong năm đó.

Đã nhiều năm, Gates tuyên bố làm từ thiện phần lớn số tiền mình có. “Tôi không có thời gian nghĩ ra nên làm từ thiện cái gì cho có ý nghĩa”, Gates nói vậy, có lẽ ông ta không nhận ra, không ai đặc biệt trong số chúng ta – những người phải toát mồ hôi khi nhìn thấy chồng hóa đơn mỗi tháng, lại có thời gian theo đuổi những việc có ý nghĩa đó. Người đàn ông này nổi tiếng về sức làm việc, người tự hào nói có thể dự 8, 9, thậm chí 12 cuộc họp mỗi ngày, vậy mà lại tuyên bố không có thời gian.

Tất nhiên, ông ta lại có thời gian với một đống việc khác. Vài năm trở về trước, Gates và tỉ phú vùng Seattle, Craig McCaw, đã trở thành đối tác tại Teledesic, một công ty vệ tinh. Gates đồng thời cũng thành lập một công ty lưu trữ ảnh có tên Corbis, nơi quản lý bản quyền kỹ thuật số của bức họa La Giaconda (Mona Lisa) và hàng loạt bức họa nổi tiếng khác, giống như kho lưu trữ Bettman Archive, một bộ sưu tập ảnh toàn diện nhất thế giới. Tại sao không? Đó có thể là cả một tài sản lớn, khi các nhà xuất bản Internet ngày càng có nhu cầu về các bức ảnh được nhiều người ưa thích.

Cái lý do thiếu thời gian của Gates chính là câu đầu tiên các ông chủ phần mềm tin học thốt ra khi ta hỏi tại sao họ không chịu làm từ thiện. Do đó, những nhà tài phiệt trẻ đã tự đầu tư vào chính mình. Brian Pinkerton, 32 tuổi, đã mua ngôi nhà trị giá 600.000 USD ở Atherton (thành phố giàu có thứ sáu nước Mỹ do tạp chí Worth bình chọn) chỉ để phá hủy ngay sau khi anh này có tư cách sở hữu. Điều đó có nghĩa anh này bỏ ra 600.000 USD, cộng với cả phí thu dọn giải phóng mặt bằng, chỉ đổi lấy một mảnh đất không nhà.

Mua nhà để biến thành đống gạch vụn là chuyện thường đến nỗi những người địa phương gọi đó là hợp đồng san nền. Còn Patricia Leigh Brown của The New York Times thì gọi đó là “Hành động xây dựng gây chú ý”. Còn trường hợp của nhà Proulxs, cũng ở Atherton, giàu có chủ yếu nhờ vào vận may của Tom Proulx, đồng sáng lập công ty Intuit. Gia đình Proulxs rất yêu ngôi nhà mình song nó sẽ rất đẹp khi đằng sau là cái sân golf 9 lỗ. Do đó, họ đã mua ba lô đất bên cạnh để xây sân golf và sau đó dùng tổ chức tiệc ngoài trời. Barbara Proulx nói với The New York Times: “Điều đầu tiên tôi làm là đánh bóng qua cửa sổ. Người ta có thể nghe được những âm thanh thích thú khi kính vỡ”.

Một khi bạn truy cập vào trang web về Bill Gates của Marcus, bạn cũng có thể truy cập vào tất cả các trang web liên quan Gates, trong đó có website của Brad Templeton tên “Chỉ số tài sản của Bill Gates” hay trang web mang nội dung rất cuốn hút “Biến tôi giàu hơn Bill Gates” của Jim Denison. Denison, người Texas, cung cấp nhiều sự lựa chọn cho những ai đóng góp vào quỹ của ông. Bạn có thể gửi cho ông ta toàn bộ số tiền (nếu đóng góp 40 tỷ USD, bạn sẽ được coi là “Người bạn suốt đời” của Denison), hoặc 40 người – mỗi người góp cho ông ta 1 tỉ USD, bạn sẽ trở thành “người bạn thân mới của tôi”. Denison viết: “Tài liệu này là trò khôi hài, và không nên xem trọng nếu như bạn không có ý định giúp đỡ biến tôi thành người giàu hơn Bill Gates...”.

Trang web Templeton cho phép bạn so sánh tài sản mình với tài sản Bill Gates. Nếu tài sản của bạn là 100.000 USD, Gates giàu gấp 400.000 lần bạn. Và nếu bạn mua ngôi nhà hết 400.000 USD, ngôi nhà đó chỉ đáng giá 1 USD theo cái mà Templeton gọi là “đôla Gates”. Một máy laptop xịn chỉ đáng giá chưa tới 2 cent tính theo đơn vị “đôla Gates”. Một chuyến du lịch trị giá 10.000 USD tới châu Âu? Tương đương 3 cent! Bạn có thể mua vé máy bay Boeing 747 với giá 1.200 USD.

Tính theo “đôla Gates”, ông chủ Microsoft có thể mua được ba chiếc Boeing, một cho riêng mình, một cho nàng Melinda và một cho đứa nhóc Jennifer Katharine. Động cơ của Richard Petersen không phải là nhắm vào núi tiền của Gates mà là những việc tốt mà Gates có thể làm. Richard Petersen viết trên trang web của mình: “Đầu tiên, tôi chỉ đặt câu hỏi: Gates có thể làm được gì với tất cả tiền của mình.

Tuy nhiên, tôi loại bỏ ý nghĩ đó bởi vì phần lớn những gì mọi người nói là ông ấy nên cho tôi một ít”. Petersen được coi là điển hình của giới xuất bản web. Đầu năm 1996, ông lập công ty Z Publishing, nơi có một phòng duy nhất và hai máy tính trông có vẻ đắt tiền tại San Francisco. Ông ta chẳng hiểu mình kiếm tiền thế nào với nghề xuất bản web, song sau này ông ta cũng chẳng bận tâm đến chuyện đó. Petersen không phải tuýp người giàu mua nhà để đập nhà, song ông ta lại cho đi chút tiền kiếm được từ những ngày làm chủ một doanh nghiệp phần mềm, và ông ta cũng đủ giàu để theo đuổi những sở thích tốn thời gian như lập trang web chửi rủa Bill Gates và nhiều người khác.

Trang web đầu tiên của Petersen là về cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton. Và Gates chỉ là sự lựa chọn thứ ba của Petersen, sau website về Đức Giáo hoàng. Giữa năm 1998, số người xem trang web về Gates nhiều hơn cả trang Bill Clinton và Giáo hoàng cộng lại. Cũng chẳng có gì nhiều trên trang Gates. Chỉ là vài đoạn tiểu sử, vài quan sát thú vị (ví dụ, Gates, với tư cách Chủ tịch Microsoft, đã bán được nhiều đĩa hơn Michael Jackson), và các đường link sang website khác về Gates. Ảnh chụp các lâu đài biệt thự của Gates vẫn chưa hoàn thành, các bài viết thì cóp nhặt từ báo khác, với một số trích dẫn từ một cuốn sách.

Tuy nhiên, Petersen đã chọn cái tên hoàn hảo cho trang web và đặt một tấm ảnh sinh động tạo vẻ cuốn hút ở góc trên của trang: ảnh đầu của Gates gắn với thân hình trần truồng của một vận động viên cử tạ. Ngay lập tức, trang web thu hút được hàng nghìn độc giả mỗi tháng. Trang web Petersen không chỉ là cuốn sách dành cho công chúng mà còn là trang web cá nhân. Bạn có thể gửi thư trực tiếp tới Bill Gates (chỉ cần click vào địa chỉ e-mail của Bill). Góc riêng tư của trang web bị giới hạn truy cập nhưng sẽ chẳng có vấn đề gì nếu bạn biết mã code và cũng chẳng quá khó đối với các “chuyên gia giải mã”. Một số người gửi e-mail cho Gates chỉ để nói rằng ông thật vĩ đại, một số nói ông ta là kẻ khốn kiếp. Tuy nhiên, như Petersen cảnh báo, đa số những người gửi e-mail cho Gates bởi họ thèm muốn tiền của ông.

Ngoài ra, còn có vô số trang web khác nói về đế chế ma quỷ Microsoft và một hiệp hội “Ngăn chặn Bill Gates lấy mọi thứ”. Chưa kể cả một hội chống Internet Explorer. Bạn có thể tham gia vào danh sách chống Microsoft. Thành viên hội này coi Gates như một tên quỷ số một (Evil One) và các sản phẩm của Microsoft là những “Windoze”, “Windblows”, “Winblah” hay “Winshit”. Còn có cả những trang web kêu gọi tẩy chay Microsoft: “Trang web chính thức căm thù Microsoft”; “Tại sao tôi ghét Bill” với lý do “Tiền của Microsoft nói lên tất cả”. Đầu năm 1997, trang “Chặn Gates lại” đã khởi xướng sáng kiến dải băng xanh. Từ đó, tất cả trang web chống Microsoft đều trương lên dải băng màu xanh. Có những website coi Gates như Đức quốc xã. Một số website khác gọi Gates là quỷ Satan và vẫn còn nhiều website lấy mặt Gates làm bao đấm công cộng. Bạn có thể đấm vào ảnh người đàn ông giàu nhất thế giới này khi truy cập vào trang “Đấm Bill Gates”. Ngoài ra, bạn cũng có thể bỏ ra cả ngày chơi game “Billy Killer”. Với trò chơi này, người chơi được bắn vào hình Gates bay lượn như những con vịt. Người chơi càng bắn được nhiều Gates càng được nhiều điểm. Theo thống kê, cụm từ “Giết Bill Gates” xuất hiện nhiều gấp hai lần cụm từ “Giết Bill Clinton” trên Internet.

Chỉ cần bước vào thế giới trên, bạn cũng biết đủ nhiều người nghĩ thế nào về Gates và Microsoft. Tại trang “www.microsuck-.com”, người ta trương khẩu hiệu “Ngày nay bạn muốn copy ai?” (Trong khi khẩu hiệu của Microsoft là: Ngày nay bạn muốn đi tới đâu?). Bản tuyên ngôn nhằm nêu rõ: “Quan điểm chủ yếu của chúng tôi là: Cuộc sống quá ngắn để vùi đầu vào cái mớ Windows 95”. Bạn cũng có thể phung phí thời gian để xem người ta ghét AOL hoặc Intel bằng cách truy cập vào các trang AOL Sucks của Nester hoặc Trang chủ bí mật của Intel.

Tuy nhiên, chỉ có người đàn ông giàu nhất thế giới này – Bill Gates – và những người có thế lực nhất thế giới trong ngành công nghệ máy tính mới thực sự quan tâm tới thái độ thù ghét. Thậm chí, một số trang web còn chứng minh bằng thuật số rằng, Gates là kẻ thù của Chúa bởi vì những chữ cái trong tên của ông được thêm vào 666, (theo Kinh thánh, đó là ký hiệu của quỷ dữ). “Ngày nay, bạn phải làm gì nếu bạn muốn thu hút sự chú ý” – phát ngôn viên Microsoft, Mich Mathews, hỏi. “Bạn tự hỏi tại sao mình lại không chỉ trích Microsoft? Điều đó sẽ khiến mình có tên trên vài tờ báo”. Tuy nhiên, thực tế không đơn giản.

Đối với Mitch Stone, cảm hứng được khơi gợi từ mục quảng cáo của Microsoft trên tờ Los Angeles Times số ra tháng 8-1996, thông báo công ty sẽ phát không trình duyệt của mình. Stone là người dùng trình duyệt Mac và chẳng bao giờ để ý đến Microsoft, dù nó nổi trội hơn cái mà ông đang dùng. Đối với Stone, đó là ví dụ điển hình về thực trạng cá lớn nuốt cá bé. Công ty lớn dùng túi tiền khổng lồ để đàn áp đối thủ nhỏ. Ngay cuối tuần đó, Stone viết một bài kêu gọi tẩy chay Microsoft. Ông đã gửi bài này tới một số bạn bè để rồi họ lại gửi cho những người khác. Và rồi, trang web “Tẩy chay Microsoft” ra đời.

Stone bắt đầu chiến dịch chống Microsoft ở tuổi 42. Chẳng ai ngờ ông lại trở thành nhà hoạt động chống Microsoft, bởi Stone là nhà bảo vệ lịch sử và chỉ dùng đến máy tính khi cần thiết. Tuy nhiên, khi ông truy cập Internet để tìm các website chống Microsoft, những gì trông thấy khiến ông bực mình. “Tôi thấy một đống những cụm từ Giết Bill và một đống những từ ngữ thô tục. Chỉ có một số câu là thận trọng”. Trong vòng vài tháng, trang web của Stone đã thu hút được 1.000 lượt truy cập mỗi ngày. Không giống như những “đồng chí” khác trong sự nghiệp chống Microsoft, Stone là nhà xuất bản web đích thực. Trái với những website khác chỉ có đường nối đến các bài báo về Microsoft, Stone đã xuất bản một danh sách dài các bài báo đặc biệt viết cho website của mình.

Trong nhiều năm, Stone viết được vô số bài, cùng khoảng 10 cây viết khác nữa. Trong một tài liệu mà Stone gọi là “Bản tuyên ngôn”, ông giải thích rằng, ông đã làm công việc xuất bản và biên tập vì báo chí kinh doanh quá bận rộn với việc “nhai lại” những thông cáo báo chí.

Trong khi đó, D. J. Waletzky tạo trang web “Bill Gates là quỷ Satan”, khi còn là học sinh lớp 10 tại Trung học Bronx. Vài tháng trước khi thiết kế trang web này, Waletzky đã thuyết phục cha mẹ mua một máy tính xịn cài hệ điều hành Windows NT. Và ấn tượng của Waletzky về NT không phải là bản thân hệ điều hành mà là máy tính phải tốn rất nhiều năng lượng để chạy cái hệ điều hành chết tiệt NT. Qua Internet, Waletzky biết rằng, Microsoft đã bán NT trong khi họ biết rõ hệ điều hành có nhiều lỗi kỹ thuật. Thậm chí họ còn tuyên bố với công chúng là NT rất hoàn hảo.

Waletzky còn đọc một bài báo cho biết Microsoft sẽ tính tiền bất cứ khi nào có người gọi đến nhờ giúp đỡ. “Khi tôi biết rằng, hỗ trợ kỹ thuật phải mất tới 95 USD cho một lần gọi, nhiều lúc công việc cũng chẳng có gì. Viết hệ điều hành có lỗi đã quá đáng lắm rồi, đằng này lại thu người ta 95 USD phí hỗ trợ sửa những lỗi đó, đây là hành động của kẻ bòn rút”. Mùa thu 1996, Waletzky có bài tập về tạo website. Waletzky nghĩ ngay làm trang web mang nội dung “Tôi ghét (chính khách) Newt Gingrich”. Tuy nhiên, sau đó, anh lại đọc về Gates: phần mềm máy tính đã tự do như thế nào trước khi có Gates và Microsoft làm thế nào để mua hệ điều hành với giá rẻ rồi kiếm về hàng tỉ đô la. Và một ngày sau, trong khi lang thang cùng bạn bè và than vãn hệ điều hành NT làm mình phát nhức đầu, Waletzky chợt buột miệng: “Bill Gates là quỷ Satan”.

Bây giờ, khi Waletzky gọi Quỷ Satan Gates, anh không có ý nói Gates là con quỷ mắt đỏ, mặt có nanh có sọc. Nếu bạn hỏi, Waletzky sẽ nói anh ta là người theo chủ nghĩa xã hội, không tin vào Chúa, cũng chẳng tin vào thế lực ma quỷ nào. “Kẻ khốn nạn” có lẽ là từ gần nhất với những gì Waletzky muốn nói. Kẻ đập cửa xe ăn cắp máy nghe nhạc chính là quỷ Satan. Trong công việc, những kẻ ngu dốt ăn cắp ý tưởng của người khác cũng là quỷ Satan. Và, kẻ có nhiều tiền đến mức trải thảm từ Trái đất đến Mặt trăng được 8 vòng, song vẫn móc túi 95 USD mỗi khi có người cần giúp đỡ, kẻ đó đích thực là “Chúa tể của bóng tối”.

Trên website mang ý nghĩa cộng đồng lớn này, những ngôi làng ảo ấm cúng sẽ làm nguôi cơn giận dữ của thế giới hiện thực. Waletzky chỉ là phần nhỏ trong thế giới những kẻ căm ghét Gates, song nó còn là cái gì đó hơn cả cái mà anh nói xa xôi là “cộng đồng”. Những bức thư qua lại giữa Waletzky và độc giả cho thấy, họ cảm thấy một cái gì đó hơn cả sự thích thú khi nhìn thấy một site mới, đến nỗi nhiều người còn coi nó như “Trang web chính thức thù ghét Microsoft”. Waletzky đã đăng ký vào danh sách thư điện tử “Ghét Microsoft” có địa chỉ (anti-ms@enemy.org). Thỉnh thoảng, số lượng e-mails mà Waletzky nhận được quá nhiều. Tuy nhiên, anh không xóa tên mình bởi vì “bạn có thể học được những thứ bạn không thể tìm được trong tạp chí PC Week”.

(Theo sách Những âm mưu hủy diệt Bill Gates do First News phát hành)

5.19.2008

Câu chuyện những ngôi nhà của Bác Hồ



Tuổi Trẻ Online ngày 18/5/2008

TT- - TT - Ngày 15-10-1954, sau khi quân ta tiến vào thủ đô được năm ngày, Bác bí mật vào Hà Nội và tạm dừng chân ở nhà thương Đồn Thủy (nay là Bệnh viện Trung ương quân đội 108). Lúc này việc chọn cho Bác một chỗ ở riêng được các đồng chí lãnh đạo đặt ra và trao đổi nhiều lần.
ADVERTISEMENT

Nhưng các biệt thự đẹp, sang trọng ở dọc các phố Phan Đình Phùng, Hoàng Diệu, Nguyễn Gia Thiều, Lý Nam Đế... lần lượt có chủ mới. Đó là những cán bộ cấp cao từ chiến khu mới về.

Chọn chỗ của người thợ điện

Trong những ngày ở nhà thương Đồn Thủy, nghe báo cáo về một số dư luận không hay lắm về việc nhà cửa có liên quan đến một vài cán bộ cấp cao, Bác tâm sự với một đồng chí bên cạnh: "Người ta ai cũng muốn có nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con khôn, ăn mặc sung sướng nhưng những cái đó dù sao cũng chỉ là nhất thời, còn tiếng xấu thì còn lại muôn đời, lưu truyền mãi mãi...".

Cuối cùng, Bộ Chính trị cũng quyết định đưa Bác về ở và làm việc tại dinh toàn quyền cũ, ngôi nhà to đẹp nhất nước lúc bấy giờ.

Ngày 15-12-1954, nhân đến thăm bộ đội diễn tập duyệt binh để chuẩn bị tham gia đón Trung ương Đảng và Chính phủ về thủ đô, Bác cùng các đồng chí giúp việc ghé vào thăm nhà mới được phân. Ai cũng nghĩ ngôi nhà này thật sự xứng đáng với Bác. Nhưng một bất ngờ đã xảy ra. Sau khi xem xét cả trong lẫn ngoài, Bác nói với các đồng chí đi cùng: "Ngôi nhà rất đẹp, không thua kém những công trình đẹp nhất ở thủ đô Paris. Các chú cần có kế hoạch quét dọn, sửa chữa để dùng vào việc khác, ví dụ như làm nơi vui chơi cho các cháu thiếu nhi chẳng hạn, còn Bác thì dứt khoát không ở đây".

Sau khi xem xét một số ngôi nhà ở khu vực xung quanh, Bác quyết định chọn chỗ ở cho mình là ngôi nhà cấp bốn của người thợ điện.

Ngày 19-12-1954, nhân kỷ niệm tám năm ngày Hà Nội nổ súng mở đầu kháng chiến toàn quốc, từ nhà thương Đồn Thủy Bác dọn đến nơi mới. Đây là căn nhà mái bằng cách nhà sàn hiện nay khoảng 100m. Nó đã bỏ không khá lâu, hình như là từ sau Hiệp định Genève được ký kết, trong đó có qui định quân Pháp phải rút khỏi Hà Nội sau ba tháng. Do đó mà quanh nhà và lối đi cây và cỏ dại đã mọc đầy.

Bộ phận văn phòng khẩn trương dọn dẹp, làm vệ sinh, nặng nhất là phải cùng nhau khiêng cái máy nổ đang nằm chềnh ềnh chính giữa nhà, dầu mỡ chảy lênh láng, đen kịt, bốc mùi rất khó chịu. Anh em bảo vệ, công vụ, văn phòng nhìn nhau ngao ngán. Bác nhìn thấy nỗi thất vọng của mọi người liền vui vẻ động viên: "Các chú chỉ cần hăng hái làm "cách mạng" trong một ngày là cải tạo xong thôi. Chúng ta sẽ có một chỗ ở đàng hoàng gấp trăm ngàn lần cán bộ và nhân dân hiện nay đang ở".

Chỉ một thời gian ngắn, cảnh vật xung quanh ngôi nhà đã thay đổi hẳn. Con đường vào nhà được rải sỏi. Bác cho trồng hai hàng dâm bụt hai bên đường. Tuy nhiên, do nhà đổ mái bằng nên mùa hè rất nóng, còn mùa đông thì lạnh giá, ánh sáng mặt trời không đủ cho Bác làm việc. Khoảng hơn 3g chiều đã phải thắp đèn. Các đồng chí lãnh đạo mỗi lần đến làm việc rất băn khoăn về nơi ở và làm việc của Bác, nhiều lần đề nghị Bác chuyển nơi khác nhưng Bác vẫn giữ ý kiến của mình. Bác nói với các đồng chí phục vụ: "Hãy nhìn nhân dân sống như thế nào để mà sống cho phù hợp. Sống phù hợp với nhân dân mới hiểu được nhân dân".

Không làm quá to, không dùng gỗ tốt

Bác thỉnh thoảng có đến thăm vài gia đình cán bộ ở những khu biệt thự to trên dưới mười phòng, trang hoàng lộng lẫy như vua chúa ngày xưa, bóng điện từ ngoài cổng cho đến trong nhà có đến vài chục ngọn. Mỗi lần đến thăm như thế, lúc ra về Bác tự nói với mình và cũng muốn cho các đồng chí phục vụ ngồi bên nghe thấy: "Trong lúc nhân dân, cán bộ còn rất nghèo khổ, khó khăn, có gia đình hàng chục nhân khẩu chen chúc trong một căn hộ hơn chục mét vuông mà họ sống trong những biệt thự như vậy mà vẫn phởn phơ, vô cảm. Thật không chịu nổi". Có lần đến thăm như thế, khi ra cửa Bác hỏi chủ nhà: "Nhà nhiều bóng đèn như thế này có hôm nào quên tắt không?".

Sau hơn bốn năm sống và làm việc ở ngôi nhà người thợ điện, sau này là "nhà 54", ngày 18-5-1958 Bác chuyển sang ở ngôi nhà sàn, cũng ở ngay trong khuôn viên Phủ chủ tịch.

Thời gian thi công nhà sàn là thời gian Bác đi công tác nước ngoài trong vòng một tháng. Trước khi đi Bác cho gọi kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh đến căn dặn là phải tiết kiệm, không làm quá to, không dùng gỗ tốt. Tầng dưới nhà sàn sẽ là nơi dùng để họp Bộ Chính trị và tiếp khách quí. Xung quanh làm một hàng ghế ximăng sát tường để dành cho các cháu thiếu nhi mỗi lần Bác mời vào vui chơi với Bác.

Ngôi nhà có hai tầng. Từ tầng một lên tầng hai bằng chiếc cầu thang gỗ 14 bậc. Tầng hai được ngăn làm hai phòng, mỗi phòng khoảng 9m2, một phòng làm việc, một phòng ngủ. Trong phòng làm việc có 1 bàn, 1 ghế và 1 giá sách sát tường chia làm nhiều ô để đựng tài liệu và sách báo. Phòng ngủ có một chiếc giường rộng 1,2m. Bốn góc giường cắm bốn cọc gỗ để mắc màn. Phía đầu giường có hai chiếc gối, một để gối ngủ, còn một để chồng lên gối ngủ cho đầu cao lên mỗi khi Bác đọc sách. Bên cạnh gối là chiếc quạt lá cọ. Bác bảo là để dự phòng khi mất điện hoặc khi đi ra ngoài. Hơn nữa, Bác nói thỉnh thoảng cũng cần phải cho quạt điện nghỉ để dùng được lâu.

Ngôi nhà sàn của Bác đã trở thành một di tích lịch sử quí hiếm, một tài sản tinh thần vô giá đối với các thế hệ mai sau. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng viết: "Cái nhà sàn của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng và trong lúc tâm hồn của Bác lộng gió thời đại thì cái nhà nhỏ đó luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn. Một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao".

Đại tá THẾ KỶ
(Người giúp việc cho ông VŨ KỲ - thư ký của Bác Hồ)

5.13.2008

Chuyện treo cờ ở dinh độc lập ngày 30/4/1975


Tấm ảnh lịch sử của Francoise Dmulde: Xe 390 húc văng 2 cánh cổng chính, còn xe 843 bị kẹt lại ở cổng phụ. Bùi Quang Thuận nhảy xuống xe (mũi tên) cầm cờ chạy vào Dinh độc lập.
9 giờ ngày 30/4/1975, sau khi đại đội xe tăng chúng tôi bắn cháy chiếc xe M48 của địch trên cầu Sài Gòn, toàn đơn vị đã vượt cầu nhằm hướng Dinh Độc Lập lao tới...

Thú thật lúc ấy tôi cũng chưa biết Dinh Độc Lập nằm ở đâu. Tôi nhớ lại trước đó, tại khu tập kết chiến dịch trong rừng cao su miền Đông, Chính ủy Lữ đoàn Bùi Văn Tùng giao nhiệm vụ cho chúng tôi trên bản đồ du lịch Sài Gòn, căn dặn: “Qua cầu Thị Nghè, đến ngã tư thứ tư thì rẽ trái chạy thẳng, sẽ tới Dinh Độc Lập”.

Vượt qua cầu Sài Gòn, chúng tôi tập trung cao độ quan sát từng góc chết của các khu nhà, những con hẻm, ngách phố, lăm lăm súng đạn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu cao độ, đề phòng sự chống trả của địch...

Đến ngã tư Hàng Xanh, xe tôi rẽ trái. Đi trước là một xe của Đại đội 3 do đồng chí Hùng làm trưởng xe. Tôi phát hiện hai xe M41 của địch ở phía trước trên cầu, chưa kịp xử lý tình huống thì một quầng lửa trùm lên xe của Hùng. Xe Đại đội 3 bốc cháy, Hùng bị thương. Pháo thủ xe tôi đã kịp thời nổ súng bắn cháy cả hai xe M41 của địch ngay tại cầu.

Sau này tôi mới biết, đây là cầu Thị Nghè. Sau khi đưa Hùng và các thành viên trong xe bị thương vào nhà dân gửi tạm, tôi ra lệnh cho xe tiếp tục tiến. Chúng tôi không nhớ mình đã vượt qua bao nhiêu ngã ba, ngã tư để đến trước một công viên có nhiều cây xanh.

Tôi ra lệnh dừng xe, và nhảy ra đứng dưới lòng đường. Từ phía trước, một phụ nữ đi xe máy lao tới. Tôi ra hiệu cho xe dừng lại, nhưng chiếc xe vẫn lao đi như không biết đến cử chỉ của tôi. Trong óc tôi thoáng nghĩ nhanh đây là cơ hội hiếm hoi để hỏi đường. Ngón tay cái tôi hạ phanh chốt an toàn khẩu súng mang theo người, nổ ba phát chỉ thiên. Như đoán được tôi cần gì, chiếc xe máy phanh gấp chững lại. Trước mắt tôi, một phụ nữ khoảng ngoài ba mươi tuổi, mặt mày tái mét. Tôi nói nhẹ nhàng:

- Chị chỉ hộ tôi đường vào Dinh Độc Lập.

- Tôi chỉ xong ông cho tôi đi chứ? - Người phụ nữ vừa nói vừa run.

- Vâng, nói xong, chị hoàn toàn tự do - Tôi khẳng định.

- Ông đang đứng trước Dinh Độc Lập đó - chị nói mà không dám chỉ tay - nó bên trong những cây kia.

Suốt chặng đường tiến vào Dinh Độc Lập, xe tăng 843 do tôi trực tiếp làm trưởng xe luôn dẫn đầu, tiếp sau là xe 390 của Chính trị viên đại đội Vũ Đăng Toàn. Xe tăng 843 tiến đến trước hàng rào Dinh Độc Lập húc thẳng vào cổng phụ bên cạnh cổng chính và khựng lại. Ngay sau đó xe 390 xông lên húc đổ cổng chính Dinh Độc Lập. Cánh cổng sắt bung ra, xe tôi cũng lao vào theo. Trong Dinh Độc Lập vẫn không thấy có phản ứng gì. Tôi đoán bọn địch đã bỏ chạy.

Nhớ đến nhiệm vụ mà Chính ủy Lữ đoàn đã giao là đơn vị nào vào trước có trách nhiệm cắm cờ và bắt nội các Dương Văn Minh, tôi liền giao lại quyền chỉ huy xe cho đồng chí Thái Bá Minh (là pháo thủ). Tôi rút cần ăngten của xe, trên có lá cờ Mặt trận giải phóng.

Tôi chỉ kịp nói với các thành viên trên xe: “Nếu 10 phút nữa không thấy tôi ở cột cờ thì còn một viên đạn nữa bắn nốt vào Dinh”. Tay phải tôi cầm lá cờ quấn vào cần ăngten chạy thẳng vào Dinh Độc Lập. Lên đến cầu thang, tôi mới cảm thấy lạnh sườn, vì đi một mình, trong tay không có vũ khí. Lúc này, lựu đạn, súng ngắn, AK tôi đều để lại trên xe.

Nhưng để chớp thời cơ, tôi lao thẳng lên tầng 2. Tại căn phòng, từ phía bên phải cầu thang, tôi thấy có người. Tôi lao vào phòng, đầu đập vào cửa kính trong suốt bị choáng, ngã ngồi xuống ngay trước cửa. Trong chốc lát, tôi tỉnh lại, thấy một nhân viên của chính quyền Sài Gòn ra mở cửa, tôi mới biết căn phòng được ngăn bằng cửa kính. Tôi nói gấp:

- Cho gặp Dương Văn Minh ngay.

- Vâng, vâng... Để tôi vào báo tổng thống.

Một lát sau, Dương Văn Minh ra. Tôi quát: “Cho người dẫn tôi lên cột cờ” vừa để trấn áp viên tổng thống. Dương Văn Minh gọi tên nhân viên gặp tôi lúc trước bảo dẫn tôi lên cột cờ.

Tôi được đưa đến trước căn phòng có hai cánh cửa sắt. Người dẫn đường ấn nút điện, hai cánh cửa dẹp về hai phía, bên trong hiện ra một khoang giống như thùng sắt đựng lúa của nông dân.

- Mời ông vào trước.

Tôi nghiêm mặt nhìn người dẫn đường đầy ngờ vực. Như đoán được suy nghĩ của tôi, người dẫn đường giải thích: “Thưa ông, đây là cầu thang máy, lên cho nhanh”. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ, tôi có biết thang máy thế nào đâu. Tôi nói: “Ông vào trước đi, nhớ quay mặt vào trong”. Người dẫn đường đi vào, tôi vào theo.

Tôi có cảm giác được nâng lên. Cánh cửa thang máy mở ra, nhìn thấy cột cờ, tôi lao thẳng đến, kéo dây hạ cờ ba sọc - biểu tượng của chính thể Việt Nam cộng hòa xuống. Do dây buộc quá chặt, cứ khoảng 20cm lại có một móc sắt, tôi lần gỡ được hai móc, sốt ruột quá liền dùng răng cắn mép trên xé rách lá cờ. Lúc này trên sân Dinh Độc Lập, xe tăng bộ binh ta đã tràn vào.

Tôi rút lá cờ Mặt trận giải phóng ở cần ăngten ra buộc vào, kéo lên. Lá cờ bay phần phật trên nóc Dinh Độc Lập trong bầu trời ngập nắng của thành phố Sài Gòn. Rồi tôi hạ cờ xuống, lấy bút máy Trường Sơn mang theo ghi vào góc dưới lá cờ dòng chữ: “11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, bên dưới ghi thêm chữ Thận" rồi lại kéo lá cờ lên. Còn lá cờ của chính quyền Sài Gòn, tôi gấp lại, đem xuống nhét vào hòm kính xe tăng. Sau này giao lại cho cán bộ bảo tàng nhà nước.

Lát sau, tôi thấy trong sân Dinh Độc Lập, ngoài đường phố, bộ đội, nhân dân, cả rừng người, rừng cờ, rừng hoa đang hân hoan đón chào chiến thắng. Việc cắm cờ trên Dinh Độc Lập tôi không làm thì đồng đội, đồng bào của tôi sẽ làm. Riêng với bản thân mình, tôi cảm ơn lịch sử đã ban cho tôi một cơ hội được góp một phần sức lực của mình trong việc giành lại hòa bình độc lập, tự do của dân tộc.

5.11.2008

10 năm đồng euro




Ngày 1.6.1998, 12 quốc gia tại châu Âu đã đồng thuận về việc sử dụng một đồng tiền chung có tên gọi là euro, với hy vọng đó sẽ là đồng tiền mạnh và mang tính ổn định trên toàn cầu. Sắp đến các quốc gia trong khu vực sử dụng đồng euro sẽ tổ chức lễ kỷ niệm 10 năm xuất hiện đơn vị tiền tệ này.

Hiện có 15 quốc gia sử dụng euro làm đồng tiền chính thức: Áo, Bỉ, Phần Lan, Pháp, Đức, Ireland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Slovenia, Cyprus và Malta.

Ngân hàng Trung ương châu Âu được thành lập ngày 1.6.1998. Đồng euro được phát hành vào ngày 1.1.1999 dưới dạng tiền điện tử. Đồng euro chính thức thay thế cho tiền tệ của các nước tham gia vào ngày 1.1.2002.

Tạ Xuân Quan
(Theo BBC)

5.04.2008

Đẳng cấp tình báo Việt Nam


Chúng tôi có may mắn được gặp nhiều nhà tình báo lão thành lừng danh của chúng ta. Đó là ông Hai Trung (Phạm Xuân Ẩn), ông Ba Quốc (Đặng Trần Đức), ông Sáu Trí (Nguyễn Đức Trí), ông Tư Cang (Nguyễn Văn Tào), ông Mười Nho (Nguyễn Xuân Mạnh), ông Ba Minh (Nguyễn Văn Minh), ông Ba Lễ (Nguyễn Văn Lễ) và một số người khác. Báo Thanh Niên đã đăng nhiều loạt ký sự dài kỳ về những chiến công kỳ diệu và những phẩm chất tuyệt vời của họ.
Còn rất nhiều người khác, trong đó có những huyền thoại tình báo, chúng tôi chưa được gặp. Nhưng chỉ với chừng ấy người được tiếp cận, đối chiếu với những gì mà chúng tôi được biết về lịch sử tình báo thế giới, có thể khẳng định đẳng cấp của ngành tình báo cách mạng nước ta không hề thua kém bất cứ nước nào.

Hơn hai mươi năm giữ an toàn tuyệt đối trong lòng địch, tiếp cận và phân tích tất cả những kế hoạch, những âm mưu, thủ đoạn quan trọng nhất của Mỹ trong suốt cuộc chiến tranh để cung cấp cho tổng hành dinh kháng chiến, khó có một nhà tình báo đông tây kim cổ nào hoàn hảo, lý tưởng như Phạm Xuân Ẩn.

Ngang nhiên ở giữa cơ quan tình báo trung ương của đối phương để tả xung hữu đột, làm những chuyện kinh thiên động địa, trong đó có việc báo về tổng hành dinh danh sách 42 ổ gián điệp địch cài ở miền Bắc để xóa sạch chúng, làm trong sạch hậu phương, kỳ tài như ông Ba Quốc ít ai bì kịp.

Hầu như thức trắng suốt một năm rưỡi để kịp chép bằng tay tất cả những tài liệu chiến tranh hàng ngày gửi đến gửi đi của Tổng Tham mưu trưởng quân đội đối phương, đến nỗi hỏng cả hai mắt, cường độ chịu đựng của ông Ba Minh chỉ có thể gọi là phi phàm...

Đó chỉ là một số trong rất nhiều chuyện có thể dẫn chứng.

Nhưng tất cả những người mà chúng tôi đã gặp ai cũng thật thà khiêm tốn, ai cũng bảo "tôi chỉ góp một chút nhỏ xíu thôi, ông kia công mới lớn". Thiên hạ thường đổ lỗi cho nhau, còn ở đây, trong cái ngành thầm lặng tuyệt đối này, ai cũng "đổ công" cho người khác. Theo chúng tôi, trong những di sản của ngành tình báo mà lớp cha chú để lại cho thế hệ sau này, đây cũng là một di sản vô giá. Nó không chỉ vô giá đối với các chiến sĩ tình báo mà vô giá đối với bất kỳ ai làm việc trong một tập thể.
Sự độc đáo ưu việt của ngành tình báo cách mạng Việt Nam. Sự ưu việt đó là, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các điệp viên, cơ quan tình báo và cấp trên đều có một mục tiêu nhất quán: giành độc lập, bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng của mình, đem lại sự bình yên, cường thịnh cho đất nước.

Ông Phạm Xuân Ẩn có lần nói với chúng tôi: Một thông tin tình báo do điệp viên gửi về, dù điệp viên đó giỏi đến đâu, thông tin có chính xác đến đâu, cũng chỉ có 50% giá trị. 50% giá trị còn lại là sự sáng suốt của cấp trên. Là người ngoài ngành, chúng tôi rất lâu mới hiểu ý nghĩa lời ông Ẩn nói. Ông Ẩn không hề coi thường sự tài giỏi và chính xác của tình báo Mỹ, nhưng ông coi thường những "cấp trên" của tình báo Mỹ, vì họ dùng tin để phục vụ những mục đích chính trị của phe phái. Ông Ẩn bảo hồi Mậu Thân không phải tình báo Mỹ không có những tin tức quan trọng, nhưng những tin tức đó đã bị Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn bóp méo đi nhằm phục vụ cho ý đồ của hành pháp che mắt Quốc hội Mỹ. Và loạt bài Đưa ra ánh sáng vụ bê bối tình báo lớn nhất Mỹ - Đức mà Thanh Niên đang đăng tải mấy hôm nay, là bằng chứng mới nhất của việc sử dụng thông tin tình báo giả tạo để làm cái cớ tấn công Iraq. Nói như vậy để thấy sự độc đáo ưu việt của ngành tình báo cách mạng Việt Nam. Sự ưu việt đó là, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các điệp viên, cơ quan tình báo và cấp trên đều có một mục tiêu nhất quán: giành độc lập, bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng của mình, đem lại sự bình yên, cường thịnh cho đất nước.
Ngành tình báo của chúng ta đã sản sinh ra những nhà tình báo vĩ đại tầm cỡ thế giới và để lại những di sản, những truyền thống quý giá. Đó là sức mạnh quốc phòng, là sức mạnh của dân tộc. Theo : TNO-Hoàng Hải Vân đăng lại Theo QĐND Olinecuối tuần ngày 25/3/2008.

4.24.2008

Sài Gòn - những phút cuối cùng hoảng loạn

Sài Gòn - những phút cuối cùng hoảng loạn

QĐND Chủ Nhật, 29/04/2007, 10:56 (GMT + 7)
Tháng 4-1975, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam. Sự kiện này cũng đánh dấu thất bại quân sự toàn diện duy nhất trong lịch sử nước Mỹ. Oa-sinh-tơn đã phải bỏ đồng minh để tháo chạy. Phóng viên BBC Brai-ơn Ba-rôn, người trực tiếp đưa tin về cuộc chiến trong sáu năm và chứng kiến chiếc máy bay trực thăng cuối cùng rời Tòa đại sứ Mỹ đã có những kỷ niệm không thể nào quên về những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn...

Cuộc tháo chạy trong sợ hãi

Chưa bao giờ tôi cảm thấy cần một chiếc trực thăng như hồi mùa xuân năm 1975 tại căn cứ không quân Tuy Hòa. Ngoài đường không ra, chẳng có cách nào để tiếp cận điểm “nóng”. Lúc đó, căn cứ này là nơi gần nhất với cuộc triệt thoái quân sự lớn nhất cuối thế kỷ 20. 2000 xe tăng, chiến xa cùng 200 nghìn lính Việt Nam Cộng hòa tán loạn bỏ chạy trước sức mạnh vũ bão của bộ đội Cộng sản. Cuộc tháo chạy này dẫn tới sự sụp đổ nhanh chóng của chính quyền Sài Gòn vài tuần sau đó.

Đánh chiếm Bộ tổng tham mưu ngụy (ảnh tư liệu)

Tôi chạy tới một chiếc Huey đang tiếp nhiên liệu, xin được đi nhờ. Cuối cùng, phi công, một viên thiếu tá đã chán ngấy cuộc chiến, gật đầu ra hiệu cho phép tôi và anh quay phim người Pháp Ê-rích Thai-rơ lên khoang. Vài phút sau, từ độ cao khoảng 300 mét, chúng tôi được chứng kiến đội quân bị bao vây, đang tán loạn trong sợ hãi. Đạn bắn lên từ họng đủ mọi loại súng, từ tiểu liên, trung liên, đại liên tới rốc-két. Chiếc Huey không có cửa sổ, ghế ngồi hay dây an toàn, tất cả được tháo ra để lắp thêm phụ kiện cho cỗ máy giết người. Súng máy từ trên chiếc trực thăng vãi đạn lung tung xuống dưới, chẳng biết trúng vào bên nào.

Nuốt lời hứa

Chỉ vài tuần sau, tôi lại thấy những chiếc trực thăng thật đáng ghét khi quay cảnh chuyến bay cuối cùng của người Mỹ rời Sài Gòn. Chúng tôi quyết tâm ở lại xem bộ đội Cộng sản đánh chiếm thành phố thế nào và cuộc chiến tôi đã đưa tin suốt sáu năm trời kết thúc ra sao. Chiếc trực thăng “cẩu” 10 lính thủy quân lục chiến Mỹ khỏi nóc Tòa đại sứ Mỹ. Lúc đó tầng trệt của tòa nhà trông như một pháo đài này bị những kẻ hôi của đốt phá. Ngoài cổng là một đám đông bu kín, kêu gào đòi được di tản.

Từ trên nóc khách sạn, chúng tôi cũng nhìn thấy sân bay Tân Sơn Nhất bị pháo kích dữ dội. Và hình ảnh đáng nhớ nữa là trên nóc các tòa nhà cao tầng trong thành phố lố nhố những người đang chờ đợi trực thăng đến đưa đi trong tuyệt vọng. Họ là những người được các ông chủ là CIA hay các cơ quan quân sự Mỹ khác hứa sẽ đưa đi di tản. Nhưng trong hỗn loạn, lời hứa đã bị nuốt một cách nhẹ nhàng. Trực thăng chẳng bao giờ đến.

Chúng tôi cảm nhận được những thời khắc cuối của cuộc chiến đã đến khi vữa tường tại phòng thu âm của Đài phát thanh Sài Gòn rơi xuống lả tả. Tôi và E-ríc phải tới tận đó để liên lạc với Luân Đôn do không còn đường dây điện thoại nào hoạt động một cách đáng tin cậy. Tòa nhà rung lên, chiếc mi-crô tung lên trần, bay vèo qua đầu tôi. Vài phút sau tôi mới biết, bộ đội Cộng sản vừa dùng máy bay mới thu được oanh tạc Phủ tổng thống ở ngay đầu con đường.

Tôi chạy tới một chiếc Huey đang tiếp nhiên liệu, xin được đi nhờ. Cuối cùng, phi công, một viên thiếu tá đã chán ngấy cuộc chiến, gật đầu ra hiệu cho phép tôi và anh quay phim người Pháp Ê-rích Thai-rơ lên khoang. Vài phút sau, từ độ cao khoảng 300 mét, chúng tôi được chứng kiến đội quân bị bao vây, đang tán loạn trong sợ hãi. Đạn bắn lên từ họng đủ mọi loại súng, từ tiểu liên, trung liên, đại liên tới rốc-két. Chiếc Huey không có cửa sổ, ghế ngồi hay dây an toàn, tất cả được tháo ra để lắp thêm phụ kiện cho cỗ máy giết người. Súng máy từ trên chiếc trực thăng vãi đạn lung tung xuống dưới, chẳng biết trúng vào bên nào.

Nuốt lời hứa

Chỉ vài tuần sau, tôi lại thấy những chiếc trực thăng thật đáng ghét khi quay cảnh chuyến bay cuối cùng của người Mỹ rời Sài Gòn. Chúng tôi quyết tâm ở lại xem bộ đội Cộng sản đánh chiếm thành phố thế nào và cuộc chiến tôi đã đưa tin suốt sáu năm trời kết thúc ra sao. Chiếc trực thăng “cẩu” 10 lính thủy quân lục chiến Mỹ khỏi nóc Tòa đại sứ Mỹ. Lúc đó tầng trệt của tòa nhà trông như một pháo đài này bị những kẻ hôi của đốt phá. Ngoài cổng là một đám đông bu kín, kêu gào đòi được di tản.

Từ trên nóc khách sạn, chúng tôi cũng nhìn thấy sân bay Tân Sơn Nhất bị pháo kích dữ dội. Và hình ảnh đáng nhớ nữa là trên nóc các tòa nhà cao tầng trong thành phố lố nhố những người đang chờ đợi trực thăng đến đưa đi trong tuyệt vọng. Họ là những người được các ông chủ là CIA hay các cơ quan quân sự Mỹ khác hứa sẽ đưa đi di tản. Nhưng trong hỗn loạn, lời hứa đã bị nuốt một cách nhẹ nhàng. Trực thăng chẳng bao giờ đến.

Chúng tôi cảm nhận được những thời khắc cuối của cuộc chiến đã đến khi vữa tường tại phòng thu âm của Đài phát thanh Sài Gòn rơi xuống lả tả. Tôi và E-ríc phải tới tận đó để liên lạc với Luân Đôn do không còn đường dây điện thoại nào hoạt động một cách đáng tin cậy. Tòa nhà rung lên, chiếc mi-crô tung lên trần, bay vèo qua đầu tôi. Vài phút sau tôi mới biết, bộ đội Cộng sản vừa dùng máy bay mới thu được oanh tạc Phủ tổng thống ở ngay đầu con đường.

Ba-rôn tường thuật sự kiện chính quyền Sài Gòn tuyên bố đầu hàng ngày 30-4-1975 (Ảnh: BBC)

Chúng tôi nhận được lệnh của ban lãnh đạo BBC là phải di tản khẩn cấp khỏi Sài Gòn. Tuy nhiên, chúng tôi đã kháng lệnh. Là phóng viên, làm sao chúng tôi có thể ngoảnh mặt bỏ đi trước một sự kiện lịch sử có một không hai như vậy?

Chiến thắng thần tốc

Sài Gòn đang sụp đổ. Nhằm thể hiện sự trung lập, chúng tôi cắm cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên mui ô tô. Biết rằng xe tăng của quân đội Cộng sản sắp tiến vào thành phố. Chúng tôi phi ra cầu Sài Gòn để ghi hình. Tôi ngồi ở băng ghế sau đọc một cuốn sách về nghệ thuật chiến tranh nhân dân của Tướng Võ Nguyên Giáp. Bất chợt, một tiểu đội lính Việt Nam Cộng hòa xuất hiện, dừng xe chúng tôi lại. Viên sĩ quan chỉ huy râu ria xồm xoàm cùng đám lính chĩa súng vào đầu chúng tôi. Tay chỉ huy buộc tội chúng tôi làm gián điệp và bắt chúng tôi phải lái xe chắn ngang cây cầu. Nghe thấy hắn gào lên điên loạn như vậy, tôi vội vàng giấu cuốn sách xuống dưới ghế. Viên sĩ quan này không lâu sau đã chết khi nhảy xuống sông để tìm đường thoát thân.

May mắn không hiểu thế nào, đám lính lại thả chúng tôi. Chúng tôi run run đi bộ trở về trung tâm thành phố. Một tiếng sau chúng tôi chạy thục mạng tới Dinh Độc lập khi xe tăng bộ đội Cộng sản húc đổ cánh cổng dinh. Tôi đã đứng cạnh Tổng thống chế độ Sài Gòn Dương Văn Minh khi ông ta đầu hàng.

Buổi chiều hôm ấy, chúng tôi quay lại cầu Sài Gòn. Chiếc ô tô bị xe tăng bộ đội Cộng sản trong cuộc tiến quân thần tốc cán bẹp lép, không còn ra hình thù gì. Tuy nhiên, lá cờ vẫn còn đó. Nó được cắm bên thành cầu, bay phấp phới.

ĐẶNG NGUYỄN